Giá trị sổ sách ròng (Ý nghĩa, Công thức) | Tính giá trị sổ sách ròng

Giá trị sổ sách ròng là gì?

Giá trị sổ sách ròng là giá trị ròng hoặc giá trị còn lại của tài sản của công ty theo sổ sách kế toán, được báo cáo trên bảng cân đối kế toán của công ty và được tính bằng cách trừ đi khấu hao lũy kế từ giá mua ban đầu của tài sản của công ty.

Công thức giá trị sổ sách ròng

Công thức được sử dụng để tính giá trị sổ sách ròng của tài sản như sau:

Công thức Giá trị sổ sách ròng = Chi phí mua ban đầu - Khấu hao lũy kế

  1. Giá gốc mua ở đây có nghĩa là giá mua tài sản được thanh toán tại thời điểm công ty mua tài sản đó.
  2. Khấu hao lũy kế ở đây có nghĩa là tổng số khấu hao được công ty tính hoặc lũy kế trên tài sản của mình cho đến ngày tính giá trị sổ sách ròng của tài sản.

Ví dụ tính toán giá trị sổ sách ròng

Giả sử rằng công ty Jack ltd đã mua nhà máy và máy móc vào ngày 1 tháng 1 năm 2011, trị giá 800.000 đô la với thời hạn sử dụng là 10 năm. Công ty có chính sách trích khấu hao hàng năm đối với toàn bộ tài sản theo phương pháp khấu hao đường thẳng. Tính giá trị sổ sách ròng của tài sản cho năm tài chính kết thúc vào ngày 1 tháng 12 năm 2018.

Câu trả lời

Đối với trường hợp công ty nêu trên, giá mua tài sản là 800.000 USD vào ngày 1 tháng 1 năm 2011. Thời gian sử dụng hữu ích của tài sản là 10 năm và công ty có chính sách khấu hao tài sản hàng năm theo đường thẳng phương pháp khấu hao. Vì vậy, chúng tôi tính khấu hao sẽ được tính hàng năm bằng cách chia giá mua tài sản với thời gian hữu dụng của tài sản.

Để tính giá trị sổ sách ròng, khấu hao lũy kế tính đến năm tài chính kết thúc vào ngày 1 tháng 12 năm 2018 sẽ được tính cho 8 năm.

Vì vậy, NBV của tài sản vào cuối năm tài chính 2018 sẽ được báo cáo trên bảng cân đối kế toán của công ty là 16.000 đô la.

Ưu điểm

  1. NBV của công ty là thước đo tài chính được sử dụng nhiều nhất trong khi định giá công ty và được đo lường cho tất cả các tài sản, cho dù chúng là tài sản hữu hình như xây dựng, nhà máy & máy móc hay tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, v.v.
  2. Tại thời điểm thanh lý công ty, việc định giá công ty dựa trên NBV của tài sản và là cơ sở chính để đo lường giá trị tài sản.
  3. Giá trị sổ sách ròng được sử dụng để tính toán các tỷ số tài chính khác nhau. Các tỷ lệ này, được tính bằng giá trị sổ sách ròng của một tài sản, giúp biết được lợi nhuận thị trường của công ty và giá thị trường chứng khoán.

Nhược điểm

  1. Nhược điểm chính của giá trị sổ sách ròng của công ty là nó không giống với giá trị thị trường của công ty vì nguyên giá của một tài sản trừ đi khấu hao lũy kế và nói chung là rất xa so với giá trị thị trường hoặc có thể gần với giá trị thị trường của tài sản nhưng nói chung không bao giờ bằng giá trị thị trường.
  2. Nó được xem xét trong khi đánh giá sự phát triển của công ty. Tuy nhiên, đây không phải là một chỉ số chính xác để đo lường triển vọng tăng trưởng của công ty vì giá trị sổ sách có thể thấp hơn tiềm năng thu nhập của công ty.
  3. Có khả năng NBV của tài sản không được tính toán một cách chính xác vì việc tính toán giá trị ghi sổ là rất quan trọng vì nó đòi hỏi phải tuân thủ nhiều luật và tiêu chuẩn hiện hành. Vì vậy, việc xác định giá trị sổ sách thực tế đôi khi rất khó khăn và việc sử dụng nó làm cơ sở để đánh giá có thể dẫn đến những quyết định sai lầm.
  4. Điều này thay đổi trong một khoảng thời gian. Do đó việc dựa hoàn toàn vào NBV có thể khiến việc định giá tài sản không phù hợp.

Điểm quan trọng

  1. NBV của tài sản không ngừng thay đổi và nhìn chung, trong trường hợp TSCĐ không ngừng suy giảm do ảnh hưởng của sự hao mòn, suy kiệt và khi hết thời gian sử dụng thì NBV của TSCĐ bằng đến giá trị còn lại của nó một cách xấp xỉ.
  2. Nói chung, các công ty định giá tài sản của mình theo giá gốc hoặc giá thị trường, tùy theo giá nào thấp hơn. Trong trường hợp giá thị trường của tài sản nhỏ hơn giá gốc thì NBV của tài sản phải là giá thị trường của nó. Trong trường hợp này, việc giảm giá trị của tài sản được thực hiện, tức là giảm giá trị sổ sách ròng của tài sản xuống giá thị trường, dẫn đến giá trị tài sản giảm đột ngột.
  3. Giá thị trường của tài sản khác với NBV của nó tại bất kỳ thời điểm nào. Theo chính sách của công ty, tài sản được khấu hao nhanh hay chậm là như thế nào. Nếu công ty khấu hao tài sản của mình bằng cách sử dụng khấu hao nhanh, nghĩa là cho phép khấu trừ cao hơn trong những năm đầu của tài sản, thì trong những năm đầu tiên, giá trị sổ sách ròng của tài sản sẽ nhỏ hơn giá trị thị trường của nó.

Phần kết luận

Giá trị sổ sách ròng là nguyên giá của tài sản mà tài sản được mua, bao gồm giá mua tài sản đó cộng với tất cả các chi phí phát sinh để làm cho tài sản sẵn sàng sử dụng trừ đi khấu hao lũy kế hoặc bất kỳ tổn thất nào. Đây được coi là thước đo tài chính được sử dụng nhiều nhất để định giá công ty, và giá trị sổ sách ròng trong hầu hết các trường hợp là khác với giá trị thị trường của tài sản.

Nó là cơ sở để báo cáo các số liệu trong bảng cân đối kế toán của công ty. Chủ yếu để phân tích tiềm năng tăng trưởng, nhà đầu tư chỉ đề cập đến các số liệu giá trị sổ sách ròng này. Do đó, các công ty nên tập trung vào việc tính toán chính xác các số liệu này trước khi báo cáo chúng trong báo cáo tài chính.